Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Nguyễn Quang Loan)
  • (Nguyễn Văn Yên)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    46953495_205743070348893_3223725267520323584_n.jpg Film_6_The_gioi_tu_nhien.flv Que_huong_karaoke.swf P1070447.JPG 2016111810110320115.jpg IMG_0979.jpg Giua_Mac_Tu_Khoa_nghe_cau_ho_Nghe_Tinh1.swf Chao_mung_Dang_Cong_San_Viet_Nam_1_1.flv Videoplayback_.flv CHUC_MUNG_NAM_MOI_AT_MUI.jpg IMG_2589.jpg 6ifvleoHoabomautimchungtinhHNL218s.jpg Ngvnl.swf Ngvn.swf Thuha3.gif Dotlathutinh2thuha.gif P1050610.jpg P1050574.jpg P1050561.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Bạn có thể đọc báo

    ĐIỂM BÁO HÀNG NGÀY

    Lịch - Máy tính


    Sắp xếp dữ liệu

    Gặp mặt Violet 24/11/2010

    Chào mừng quý vị đến với website của Nguyễn Quang Loan HT trường THCS Đáp Cầu TP Bắc Ninh

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Bài viết > Lưu giữ kỉ niệm >

    Trường Đáp Cầu!

    PHẦN THỨ NHẤT

    MẢNH ĐẤT QUÊ HƯƠNG ĐÁP CẦU – BẮC NINH

    1. ĐỊA LÝ:

    Đáp Cầu – Bắc Ninh là mảnh đất nằm gọn trong quê hương cổ kính xưa của người Việt từ đời các vua Hùng dựng nước đất này đã có tên là Vũ Ninh. Cố đô Luy Lâu – Lonh Biên còn cổ kính hơn cả Thăng Long đã xây dựng tại đây.

    Chỉ có quê hương Đáp Cầu – Bắc Ninh của chúng ta mới có cái diễm phúc của tổ tiên để lại là có đủ “Một trăm họ” có những họ mà rất ít có ở bất kỳ một tỉnh nào ở nước Việt Nam thì tại quê hương cổ kính này lại có như họ Đậu, họ Ông… (đi thăm đất nước NXB VH trang 137).

    Với hàng ngàn năm lịch sử Đáp Cầu – Bắc Ninh đã đổi thay quá nhiều về địa danh hành chính những lại có mấy thời kỳ như sau:

    Thời Hùng Vương có tên là Vũ Ninh.

    Thời Tiền Lê có tên là Bắc Giang (Thế kỷ thứ X – XI).

    Thời Lý có tên là Gia Lâm Quận (Thế kỷ thứ XI – XIII).

    Thời Trần có tên là Bắc Giang Lộ (Thế kỷ thứ XIII – XIV).

    Thời Lê lúc đầu có tên là Bắc Đạo rồi Bắc Giang và Thừa Tuyên (Thế kỷ thứ XV – XVIII).

    Đến đời Hồng Đức thì lại có tên là Kinh Bắc với Thành Thị Kiều nổi tiếng chính là hệ thống thành trì xung quanh núi Đáp Cầu và Thị Cầu Bắc Ninh ngày nay. Thành cổ Thị Kiều này đến đời Gia Long (1802 – 1918) thì được rời đến địa bàn mới thuộc địa phận hai làng An Xá và làng Niềm Xá – Bắc Ninh, ngày nay thành đó chính là “thành Bắc Ninh”. Ngày nay thành này hiện là nới đóng quân của một đơn vị quân sự quan trọng dưới quyền chỉ huy của thiếu tướng nguyên cựu học sinh trường tiểu học Đáp Cầu (xem cuốn CONNAISSANCE du ViệtNam– PARP.HUARDET MAURICE DURAND, Paris.IMPRIMERIE NATIONALE.ECOLE FRANCAISED EXTREME ORIENT, PAGE 35). Mãi đến năm 1831, thời Nguyễn tỉnh Bắc Ninh mới ra đời bao gồm sáu phủ và phân phủ trải rộng nên đến tận phủ Lạng Giang nghĩa là kéo xa tắp nên đến tận phía Bắc của Tả ngạn Sông Cầu. Mãi đến năm 1985 mới lập tỉnh Bắc Giang (Sách đã dẫn trang 134) tỉnh Bắc Ninh còn từ bờ nam sông Cầu đến bờ Bắc sông Hồng.

    Khoảng năm 1902 ở Đáp Cầu thuộc đất Kinh Bắc – Bắc Ninh phái nam sông Cầu, phía Bắc thành cổ Bắc Ninh, rộng 0.96 km2 có quốc lộ I xuyên qua, có đường sắt Hà Nội – Mục Nam quan – (Lạng Sơn) là hai tuyến giao thông đường bộ quan trọng. Có sông Cầu nối liền với Lục Đầu, Bạch Đằng Giang là tuyến giao thông đường thủy huyết mạch nối liền với Hà Nội bằng sông Đuống (sông đào từ thời Lý – Trần). Sông Cầu – sông Như Nguyệt gắn liền với cuộc kháng chiến Đại thắng quân Tống, Quân Nguyên của lịch sử Việt Nam.

    2. CON NGƯỜI ĐÁP CẦU:

    Tiền sử người Đáp Cầu yêu nước anh hùng dũng cảm trong kháng chiến chống phong kiến Trung Quốc, phát xít Nhật thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, lao động cần cù trong xây dựng kiến quốc.

    Nghề chính của Đáp Cầu là vôi. Vật liệu xây dựng, giao thông vận tải thô sơ thủy bộ một phần lớn là nghề thầu khoán. Hiện nay trong ca dao vẫn có câu:

    “Trai Đáp Cầu đi thầu nuôi vợ

    Gái Thị Cầu đi chợ nuôi chồng”

    Câu ca dao đó nói lên ở Đáp Cầu có đông đảo những nhà thầu khoán rất nổi tiếng trong vùng thuộc hai họ có thanh thế nhất là họ Ngô và họ Vũ.

    Hiện nay, Đáp Cầu có 7965 người chia thành 6 khu phố vẫn tiếp tục theo nghề cha ông, nhưng có 1/3 só dân ở các tỉnh bạn chuyển về nhập cư làm công nhân tại công ty kính Đáp Cầu, công ty may Đáp Cầu, cảng Hà Bắc, nhà máy thuốc lá Bắc Sơn.

    3. TRUYỀN THỐNG KHOA BẢNG:

    Đỗ tú tài Hán học:

    - 1646: Vũ Quang Diệu, Thụy Khúc Hòa

    - 1700: Trương Phúc Cần

    - 1740: Vũ Quang Huyên, Hạ Bá Hài

    - 1768: Vũ Đình Can, Vũ Đình Cận, Vũ Đình Phan.

    - 1801: Vũ Đình Hiến, Vũ Đình Viên, Vũ Đình Duệ, Vũ Đình Chiến, Vũ Đình Diễn

    - 1807: Vũ Đình Hoán: 3 khoa tú tài.

    - 1814: Vũ Đình Tuy: 6 khoa tú tài, đỗ tú tài năm 14 tuổi

    - 1831: Ngô Thế Mẫn: 6 khoa tú tài

    - 1836: Vũ Đình Quang: 2 khoa tú tài

    - 1843: Ngô Thế Toại: đỗ tú tài năm 20 tuổi sau đỗ 3 khoa tú tài năm 31 tuổi

                Ngô Trọng Tố: đỗ tú tài năm 20 tuổi

    Chưa kể hai vị tú tài họ Nguyễn Đình chưa rõ đỗ năm nào.

    Đỗ cử nhân Hán học:

    - 1768: Vũ Đình Can.

    - 1801: Vũ Đình Hoán

    - 1843: Ngô Trọng Tố

    - 1847: Hạ Bá Thanh

    - 1857: Hạ Bá Chính

    - 1868: Hạ Bá Hoa

    Đỗ đệ nhị giáp tiến sỹ:

    1453: Trần Bá Ninh.

    Huấn đạo giáo thụ đốc học, kiếm học:

    - 1780: Cụ Vũ Đình Can, huấn đạo phủ Anh Đô xứ Nghệ An.

    - 1781: Cụ Vũ Đình Can làm giáo thụ ở Anh Đô 6 năm

    - 1836: Cụ Vũ Đình Quan, đốc học, huấn đạo huyện Gia Lộc - Hải Dương (1847).

    - 1864: Cụ Ngô Trọng Tố, huấn đạo Tiên Du (Bắc Ninh), sau thăng giáo thụ Gia Viễn (Ninh Bình).

    - 1932 – 1945: Cụ Nguyễn Văn Dự đã kinh qua ba chức: Huấn đạo, giáo thụ, kiếm học trước cách mạng tháng 8 năm 1945.

    Tri phủ - tri huyện:

    - 1787: Cụ Vũ Đình Can làm tri huyện Yên Mô.

    - 1800:  Cụ Vũ Đình Can làm tri huyện Yên Mô lần thứ hai.

    - 1821:  Cụ Vũ Đình Hoán làm tri huyện Nam Trân (Thái Bình).

    - 1847:  Cụ Trương Ngọc Toàn, tri phủ phủ Thông (Bạch Thông, thuộc tỉnh Bắc Cạn nay là Bắc Thái).

    - 1847:  Cụ Hạ Bá Thanh làm tri huyện Đông Sơn.

    - 1857:  Cụ Hạ Bá Chính làm tri huyện Bảo Lộc (Lạng Giang).

    - 1868:  Cụ Ngô Trọng Tố làm tri huyện Thanh Chương.

    Cụ Hạ Bá Hoa tri huyện Thạch Hà

    Cụ Vũ Đình Mẫn tri phủ.

    Cụ Vũ Đình Cao tri phủ Vạn Tượng.

    Tổng đốc:

    - 1877: Cụ Ngô Trọng Tố, tổng đốc Sơn Hưng Tuyên (trích gia phả các dòng họ Đáp Cầu).

    Truyền thống hiếu học ngày nay đang được phát huy mạnh mẽ, theo thống kê chưa đầy đủ đã có:

    - 154 người tốt nghiệp Đại học các ngành trong và ngoài nước (Bác sỹ, kỹ sư, giáo sư, đạo diễn, họa sỹ, kiến trúc sư….).

    - 13 người có học vị tiến sỹ, phó tiến sỹ Khoa học kỹ thuật.

    - 52 cán bộ trung cao cấp trong và ngoài quân đội bao gồm: 12 đại tá, 28 giám đốc, phó giám độc các nhà máy ở Trung ương và cụ vụ trưởng ở các bộ và các cơ quan ngang bộ.

    - Thời kỳ 30 – 45 trường chúng ta đã đóng góp cho tổ quốc, cho nhân loại khá nhiều điển hình, có thể kể:

    1. Hoàng Quốc Việt

    Tức Hạ Bá Cang nhà hoạt động chính trị cao cấp của Đảng Cộng Sản Việt nam.

    2. Ngô Tiến Cảnh

    Nhà doanh nghiệp nổi tiếng, có biệt tài kinh bang tế thế. Người đầu tiên kai mỏ Phốt phát và đặt tên mỏ Phốt phát Vinh Thịnh Bắc Giang.

    3. Bùi Huy Phồn

    (Đồ Phồn) nhà văn với nhiều tác phẩm nổi tiếng. Nhà kinh doanh tài giỏi nguyên Nghị viện Bắc Kỳ 1930 – 1931, nguyên chủ tịch Bắc Ninh.

    4. Ngô Thế Loan

    Nhà doanh nghiệp nổi tiếng nguyên chủ tịch Mặt trận tổ quốc tỉnh Hà Bắc, đại biểu quốc hội VNDCCH Khóa I.

    5. Ngô Thế Phúc

    Nguyên Đông Lý văn phòng đầu tiên bộ giáo dục. Nhà doanh nghiệp nổi tiếng người đi du học đầu tiên ở Pháp chồng nữ họa sỹ Ngô Thị Lưu.

    6. Nguyễn Cát Tường

    7. Ngô Thế Tân

    8. Ngô Thế Duông

    Người Việt Nam năm kỹ thuật vô tuyến viễn thông cao nhất thời Pháp và được chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ định đi FONTAINEBLEAU phụ trách kỹ thuật truyền tin năm 1946

    9. Văn Cương

    Nguyễn Dương, Trung tướng.

    Ngoài ra còn có nhiều nhà quân sự cao cấp nổi tiếng ở khắp trong và ngoài nước: Ngô Thế Khuê, Hạ Bá Bưởi, Đào Trọng Chắt, Ngô Thế Nùng, Ngô Trọng Oánh, Trần Thắng.

    10. Các nhà văn hóa khoa học kỹ thuật kinh tế quản lý nổi tiếng sau này còn có rất nhiều ở trong và ngoài nước: Ngô Mai Cường (kỹ thuật), Ngô Thế Phương (y), Vũ Đình Hải (y), Hạ Bá Khiêm (vi sinh). Vũ Đình Phong (Kịch), Hạ Bá Khúc (Ngoại thương), Vũ Đình Đĩnh (Kinh tế), Vũ Tam Lang (Kiến trúc), Ngô Bằng Đoàn (Hải Dương – Thủy sản), thợ cắt may giỏi: Kim Tu, Nguyễn Thu, cụ Mãn. Ngô Thế Dũng (đóng phim vai Ngô Đình Diệm).

    11. Ngô Thế Thinh (Sử - Địa – Kinh tế) với 78 sách công trình khoa học đã được xuất bản hoặc công bố trên các báo trí đài TNVN đài truyền hình TW.

    12. Dương Khả - tức Phạm Dương: Nhà ngoại giao 6 năm tại Mỹ phát ngôn viên của nước CHXH CH tại Liên Hiệp quốc.

    13. Dường Ngà nguyên giám đốc Sở giáo dục Hà Nội một trong những người lãnh đạo trong thành ủy Hà Nội.

    14. Các võ sỹ: võ sỹ Hồng, Giai Mạc, Hồ Phát và võ sơ Nguyễn Mộc hiện nay ở Pháp đứng đầu trường phái Vovinam.

    Các mốc truyền thống lịch sử cận đại:

    - Ngày 20/08/1945 toàn bộ chính quyền về tay nhân dân.  Nhân dân Đáp Cầu bắt tay ngay vào việc xây dựng cuộc sống mới.

    - Ngày 23/09/1945 nhân dân Đáp Cầu nhiệt liệt hưởng ứng “Tuần lễ vàng” của chính phủ.

    - Ngày 05/11/1945, tổ chức ngày Nam Bộ kháng chiến tại Đáp Cầu nội dung hô hào Nam tiến, vận động thanh niên xung phong đi bộ đội.

    - Ngày 06/01/1946, 90% cử tri Đáp Cầu nô nức đi bỏ phiếu bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

    - Ngày 02/03/1946, phát động phong trào bình dân học vụ và chống giặc đói.

    - Ngày 26/04/1946, nhân dân Đáp Cầu hăng hái đi bầu hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

    - Tháng  05/1946, lần thứ 4, Hồ chủ tịch tới thăm Hà Bắc từ thị xã Bắc Giang, Bác về luôn Đáp Cầu nói chuyện thân mật với bà con dân phố.

    - Tháng 07/06/1946, sạch bóng tàu Tưởng ở quê hương.

    - Tháng 07/1946 thành lập đội tự vệ chiến đấu Đáp Cầu.

    - Tháng 9/1946, nhà máy giấy Đáp Cầu đã tự trang bị được khoảng 1000 khẩu sung để bảo vệ nhà máy và chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.

    PHẦN THỨ HAI:

    LỊCH SỬ TRƯỜNG THCS ĐÁP CẦU

    NỀN TẢNG TRƯỜNG THCS ĐÁP CẦU

    CHƯƠNG I: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NỀN GIÁO DỤC ĐÁP CẦU

    1. Thời kỳ sơ khai: sau khi người Pháp đã bình định xong nước Việt Nam thì hiệp ước Pa tơ Nốt đã được ký ngày 06/06/1884. Từ đó họ đã nghĩ đến việc tổ chức một bộ máy cai trị hoàn hảo hơn và có hiệu lực hơn. Việc học chữ quốc ngữ và chữ Pháp được khuyến khích mặc dầu chưa có văn bản chính thống nào quy định về giáo dục, Đáp Cầu đã có thày dạy quốc ngữ với vài lớp vỡ lòng rất ít học trò, trường lớp chưa quy củ.

    2. Thời kỳ 1905 – 1944: Sang đến năm 1905, người Pháp đã bình định xong Đông Dương cho nên viên tổng đốc toàn quyền Pon Đu me đã về Pháp năm 1902.

    Sau nhiệm kỳ 12 năm tổng thống toàn quyền mới là ông Bô (Beau) sang thay, ông Bô được chính phủ Pháp cho phép mở mang trường học, nhà thương, nhà tế bần… nhằm mục đích đào tạo một lớp người Việt Nam mới phục vụ bộ máy hành chính quản trị của chế độ thực dân Pháp.

    Nếu chúng ta chấp nhận những lớp lẻ tẻ đầu tiên của chúng ta ra đời năm 1902 thì đến năm 2002 nền giáo dục Đáp Cầu tròn 100 tuổi còn nếu chúng ta chấp nhận năm chính thức thành lập là năm 1905 thì năm 2005 nền giáo dục Đáp Cầu tròn 100 tuổi (xem “Phú mại hồi ký” Ngô Tiến Cảnh, Paris).

    Trường tiểu học Đáp Cầu được thành lập năm 1905 lúc đầu chỉ có hai lớp: lớp 5 (Enfantin), lớp tư (Preparatoire) và được đặt ơ dốc Đốc Học (Trường PTCS hiện nay). Cảnh trường khang trang đẹp đẽ núi non hùng vĩ.

    Sau được xây dựng thêm ở cuối phố chính một phân hiệu nằm sát bờ sông Cầu lịch sử. lúc này trường có đủ 6 lớp tiểu học, lớp 3 (Elementaire), lớp nhì năm một (Moyon 1 eme Annee), lớp nhì năm hai (Moyon 2 eme Annee) và lớp nhất (Cours Superieur). Trường rộng sân đẹp với hàng bang xanh, xum suê cành lá… Trường con gái thì học ở Bicanhơn. Thày dạy những năm đầu tiên là thầyChu, thày Phao.. người học sinh khóa đầu tiên (1905) là cụ Ngô Tiến Cảnh, người duy nhất còn lại. Các thày giáo trước cách mạng tháng 8 có các thày: Tống Sơn Hồ, Nghiêm Xuân Da, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Văn Tôn… nay chỉ còn một thày Tôn. Các cựu học sinh niên khóa 1915 – 1925 có các cụ Hoàng Quốc Việt, Ngô Thế Loan, Ngô Thế Phúc, Bùi Huy Phồn, Hồ Quang Diễm…..

    Trường đã có một lịch sử huy hoàng và truyền thống vẻ vang, học sinh cũ hiện nay ở khắp thế giới và một lòng hướng về quê hương.

    Từ 1930 – 1934 trường THCS Đáp Cầu với hai phân hiệu và trường con gái Đáp Cầu cũng trở nên khang trang đẹp đẽ hơn bao giờ hết các lớp  trên dốc Đốc Học (nay là địa bàn trường PTCS Đáp Cầu) có cửa kính, cửa chớp trong lớp có lò sưởi, ngoài hiên có hành lang rộng, trước mặt có cửa sắt lớn.

    Còn phân hiệu thứ hai nằm ở dưới thấp hơn (phố Chi Ly) nay là khu vự cuối phố chính Đáp Cầu phân hiệu này nằm sát bờ sông Cầu lịch sử chỉ cách Ty rượu và vài khu vườn xanh tốt là đến cây cầu Tây Cao (một chiếc cầu tàu cùng mặt phẳng với đường cái nhô ra sông để đón hàng và hành khách của tàu thủy NTT – chú).

    Nơi đây học sinh Đáp Cầu đã để lại bao nhiêu kỉ niệm sâu sắc đáng ghi nhớ.

    3. Thời kỳ 1945 – 1954:

    Cùng với cuộc kháng chiến toàn quốc năm 1946 toàn dân tiêu thổ kháng chiến. Trường tiểu học Đáp Cầu phá ta hoang. Giáo dục Đáp Cầu chấm dứt, học sinh theo học các trường tự do chiến khu Việt Bắc. Nay còn để lại di tích tại dốc Đốc Học nơi trường PTCS Đáp Cầu được xây dựng lại hiện nay. Năm 1950 – 1951 chính quyền thực dân Pháp tiếp tục mở các lớp tiểu học, học tại khu II, khu TRung tu hiện nay của Phường Đáp Cầu.

    4. Thời kỳ 1954 – 1963: chưa thành lập tại trường riêng của Đáp Cầu:

    Chỉ có một phân hiệu (thuộc trường cấp 2 Vinh Bắc) gồm 3 lớp 5, 6, 7 học tại đình chùa Đáp Cầu gồm 145 học sinh do thày Nguyễn Trác – Thị Cầu phụ trách.

    5. Thời kỳ 1963 – 1996:

    Trường PTCS Đáp Cầu được xây dựng lại và khai giảng năm học đầu tiên là 1974 – 1975.

    Trường có 12 lớp từ lớp 1 đến lớp 6 (chưa có lớp 7) với 495  học sinh. Thày hiệu trưởng đầu tiên là ông Nguyễn Văn Thu (ở Hòa Bình) với 18 giáo viên: 12 giáo viên cấp I và 6 giáo viên cấp II)

    - Từ 1976 – 1979 thày Vũ Văn Hương (Vũ Ninh) làm hiệu trưởng.  

    - Từ 1979 – 1982 thày Nguyễn Thế Khải làm hiệu trưởng (nay là cán bộ về hưu ở phường Vệ An).  

    - Từ 1982 – 1984 thày Trần Ngọc làm hiệu trưởng (cán bộ về hưu phường Tiền An).  

    - Từ 1976 – 1979 thày Nguyễn Văn Hợi làm hiệu trưởng. Khi đó trường THCS Đáp Cầu có 18 lớp với 889 học sinh có đủ từ lớp 1 đến lớp 9 với 28 giáo viên: 16 giáo viên tiểu học, 17 giáo viên trung học)

    - Từ 1991 – 1992 Trường THCS Đáp Cầu tách thành hai trường:

    + Trường tiểu học Đáp Cầu cô Vi Thị Phú làm hiệu trưởng. cô Hoàng Thị Tâm làm hiệu phó.

    + Trường THCS Đáp Cầu do thày Nguyễn Văn Hợi làm hiệu trưởng, thày Nguyễn Văn Cậy làm hiệu phó. (Hiện nay thày Nguyễn Văn Cậy là trưởng phòng GD – ĐT tỉnh Bắc Ninh).    

    - Từ 1976 – 1979 thày Vũ Văn Hương (Vũ Ninh) làm hiệu trưởng.  

    - Từ 1976 – 1979 thày Vũ Văn Hương (Vũ Ninh) làm hiệu trưởng.  

    - Từ 1976 – 1979 thày Vũ Văn Hương (Vũ Ninh) làm hiệu trưởng.  

    - Từ 1976 – 1979 thày Vũ Văn Hương (Vũ Ninh) làm hiệu trưởng.  

    CHƯƠNG III: TRƯỜNG THCS ĐÁP CẦU TỪ NĂM 1991 – 2004

    1. Trường THCS Đáp Cầu được thành lập tiêng từ năm 1991 – 1992:

    * Mục tiêu: Giáo dục và đào tạo thanh thiếu niên thực hiện tốt năm điều Bác Hồ dạy phấn đấu thành con ngoan trò giỏi để tiếp tục học PTTH một phần học nghề đề xây dựng kinh tế địa phương hoàn thành phổ cập THCS nâng cao mặt bằng dân trí.

    * Cơ sở vật chất: Có 18 phòng học, có 360 bộ bàn ghế học chung với trường tiểu học Đáp Cầu.

    * Quy mô: Trường có 11 lớp 392 học sinh với 20 giáo viên trường xếp lạo khá, tỷ lệ tốt nghiệp 85% lên lớp 95%.

    2. Năm học 1995 – 1996: Trường đạt danh hiệu Tiên tiến cấp Thị xã tỷ lệ tốt nghiệp 93%, lên lớp 99% xuất hiện giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh cô Nguyễn Thị Đức – Sinh – Hóa, cấp thị xã cô Đặng Thị Bích Nga – Toán, cô Nguyễn Thị Trung – Văn. Chiến sỹ thi đua cô Đặng Thị Kim Dung.

    3. Từ năm 1998 – 2001:

    Trường liên tục đạt danh hiệu tiên tiến cấp Thị xã, đồng đội học sinh giỏi xếp thứ 4/9 trường và đỗ tốt nghiệp 95 – 100%, lên lớp 96 – 99,5%.

    - Có chiến sỹ thi đua cấp Thị xã: Thày giáo hiệu trưởng Nguyễn Văn Hợi.

    - Giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh: Cô Nguyễn Thị Đức.

    - Giáo viên dạy giỏi cấp thị xã: Cô Đặng Thị Bích Nga, Cô Nguyễn Trinh Thục, Cô Nguyễn Thị Trung.

    4. Năm học 2001 – 2002: Trường tiếp tục đạt danh hiệu tiên tiến cấp Thị xã với tỉ lệ tốt nghiệp 100%, lên lớp 99,5%, đồng đội học sinh giỏi xếp thứ 5 trong toàn thị xã với 26 giải trong đó có hai giải cấp tỉnh.

    5. Năm học 2002 – 2003: Trường tách cơ sở vật chất riêng: Ngôi trường xây dựng có 14 phòng học, 1 thư viện, 1 phòng thiết bị, 1 phòng thực hành tại khu đất 7000m2 trên khu 3 Đáp Cầu, số vốn 3,6 tỷ đồng, với 14 lớp 559 học sinh, 31 cán bộ giáo viên.

    Trường được công nhận Tiên tiến xuất sắc cấp tỉnh.

    - Chiến sỹ thi đua: Thày hiệu trưởng Nguyễn Văn Hợi.

    - Giáo viên giỏi cấp tỉnh: Cô NGuyễn Thị Đức – Sinh – Hóa, cô Nguyễn Minh Chí – Văn.

    - Giáo viên giỏi cấp thị xã: Cô Nguyễn Thị Trung – Văn.

    6. Năm 2003 – 2004:

    * Mục tiêu: Từng bước xây dựng cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia giữ vững danh hiệu tiên tiến xuất sắc, thực hiện yêu cầu: “Nâng cao mặt bằng dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài”. Hoàn thành vững chắc phổ cập giáo dục THCS, tiến tới phổ cập THPT.

    * Quy mô: Trường có 13 lớp với 541 học sinh và 30 cán bộ, giáo viên

    Đạt chuẩn 63%, xếp loại giỏi 13

    Xếp loại khá: 13

    Trên chuẩn 30%

    Xếp loại trung bình: 1

    * Cơ sở vật chất: 13 phòng học, 1 thư viện,

    1 phòng thiết bị, 2 phòng thực hành.

    * Chất lượng:

    - Lên lớp: 99%, tốt nghiệp 99,2%, đồng đội học sinh giỏi xếp thứ 4/9 trường, có 36 giải trong đó có 1 giải cấp Tỉnh, tDTT có 6 giải trong đó có 3 giải nhất cấp tỉnh về môn cờ vua, bóng đá nữ. Trường đạt tiêu chuẩn Xanh – sạch - đẹp cấp tỉnh lạo tốt.

    - Giáo viên giỏi cấp tỉnh: 2 đồng chí (Cô Nguyễn Thị Đức, cô Nguyễn Minh Chí).

    - Chiến sỹ thi đua: Nguyễn Văn Hợi - Hiệu trưởng.

    - Giáo viên giỏi cấp thị xã (6 đồng chí):

    + Cô Đặng Thị Bích Nga – Toán.

    + Thầy Ngô Giang Nam – Toán

    + Thầy Nguyễn Xuân Cường - Địa

    + Cô Nguyễn Thị Lịch – GDCD

    + Cô Nguyễn Thị Trung – Văn

    + Cô Nguyễn Hải Yến – Anh văn.

    PHẦN THỨ BA

    PHỤ LỤC: KẾT QUẢ GIÁO DỤC (Xem hai bảng thống kê)


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Quang Loan @ 15:08 04/04/2015
    Số lượt xem: 952
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến