Chào mừng quý vị đến với website của Nguyễn Quang Loan HT trường THCS Đáp Cầu TP Bắc Ninh
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
ĐÈN ĐIỆN TỬ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: st
Người gửi: Đào Thị Nhung (trang riêng)
Ngày gửi: 23h:10' 12-09-2010
Dung lượng: 761.7 KB
Số lượt tải: 34
Nguồn: st
Người gửi: Đào Thị Nhung (trang riêng)
Ngày gửi: 23h:10' 12-09-2010
Dung lượng: 761.7 KB
Số lượt tải: 34
Số lượt thích:
0 người
ĐÈN ĐIỆN TỬ
GVHD: Thầy Lê Văn Hoàng
Nhóm thực hiện:
Kim Thị Sô Phiếp
Diên Nữ Thanh Thụy
Tô Ngọc Hưng
GiỚI THIỆU CHUNG:
Đèn điện tử chân không (vacuum tube, còn được gọi tắt là tube hay valve) còn thường được gọi là đèn điện tử hoặc bóng điện tử là một linh kiện điện tử.
Bản chất của đèn điện tử có kích thước lớn, khi hoạt động toả ra nhiều nhiệt. Hiện nay hầu hết các thiết bị điện tử đã không còn dùng đèn này nữa mà dùng các linh kiện bán dẫn để thay thế (transistor, IC...)
Tuy nhiên trong lĩnh vực chế tạo ampli cho giới sành nhạc, người ta vẫn rất chuộng ampli đèn, lý do là vì ampli đèn có khả năng tạo ra âm thanh trung thực bởi tính chất của nó.
Năm 1904, bóng đèn 2 cực chân không (diode) đầu tiên ra đời. Hai năm sau, bóng đèn 3 cực (triode) xuất hiện, khởi nguồn cho thời hoàng kim của ampli đèn, sau đó xuất hiện đèn bốn cực, năm cực.
PHÂN LOẠI ĐÈN ĐIỆN TỬ
Về mặt công dụng.
Về mặt chế độ công tác.
Về mặt tần số .
Về mặt kết cấu nội bộ.
Về mặt làm nguội .
CATỐT TRONG ĐÈN ĐIỆN TỬ
Catốt lạnh.
Catốt quang điện.
Catốt nhiệt.
SỰ PHÁT XẠ ĐIỆN TỬ
Phát xạ nhiệt điện tử.
Phát xạ quang điện tử.
Phát xạ điện tử thứ cấp.
Nguyên lý hoạt động chung:
Dựa vào sự khống chế luồng điện tử phát xạ.
Các đèn điện tử cần đốt nóng các sợi đốt, khi nhiệt độ các sợi đốt đạt đến một mức độ nào đó, động năng của điện tử thắng sự liên kết của kim loại và sẵn sàng nhảy ra khỏi bề mặt kim loại của sợi đốt.
Để điều khiển các điện tử, giữa các cực cần có một điện trường, chính các điện trường này đã tạo ra dòng điện trong chân không: điện tử di chuyển đến a-nốt.
Cấu tạo:
Đèn hai cực.
Đèn ba cực.
Đèn bốn cực.
Đèn năm cực.
Đèn hai cực
Đèn hai cực gồm hai điện cực đặt trong một bầu thủy tinh đã rút không khí.
Hai điện cực là catốt phát xạ điện tử và anốt hút điện tử.
Anốt và catốt được đặt trên những giá đỡ và có dây nối ra phía ngoài tới các chân điện tử ở dây đèn để nối vào các mạch điện ngoài.
Catốt có thể là nung sợi trực tiếp hoặc nung sợi gián tiếp.
Anốt thường bằng kim loại (kền hoặc thép mạ kền).
Mạch điện của đèn hai cực:
FF là sợi nung được đấu vào nguồn Ef là nguồn nung sợi. Dòng If là dòng nung sợi. Mạch gồm nguồn Ef và sợi nung FF là mạch nung sợi.
A là anốt được đấu vào cực + của nguồn Ea là nguồn cao áp cung cấp cho anốt.
Đèn ba cực:
1. Vỏ thủy tinh
2. Anốt
3. Catốt
4. Cục ghéttơ để hút khí, nâng cao độ chân không
5. Tấm mica làm giá đỡ
6. Lưới điều khiển
7. Sợi nung
8. Chân đèn.
Lưới là những vòng dây mảnh đặt trên những giá đỡ và nằm giữa anốt và catốt. Luồng điện tử bay từ catốt sang anốt phải bay qua những mắt lưới và bị lưới điều khiển khống chế. Lưới được ký hiệu là g và được đấu vào nguồn điện áp để cung cấp cho lưới gọi là nguồn điện lưới. Điện áp đo giữa lưới và catốt gọi là điện áp lưới Ug.
Như vậy đèn ba cực có ba điện cực:
- Catốt để phát xạ điện tử
- Anốt để hút điện tử
- Lưới để khống chế luồng điện tử đó.
Mạch điện của đèn ba cực:
Mạch điện của đèn ba cực như hình 6
- Mạch anốt là mạch đấu nguồn anốt E0 vào anốt và catốt của đèn. Trong mạch anốt có dòng anốt Ia.
- Mạch lưới đấu nguồn lưới Eg vào giữa catốt và lưới của đèn. Trong mạch lưới có thể đo dòng lưới Ig.
Trong hình 6:
1. Là dòng lưới Ig chạy trong mạch lưới, biểu thị bằng mũi tên nét đứt.
2. Là dòng anốt Ia chạy trong mạch anốt, biểu thị bằng mũi tên nét liền.
3. Là nguồn cung cấp cao áp anốt E0.
Đèn bốn cực:
Gồm:
1. anốt
2. Lưới chắn
3. Lưới điều khiển
4. Catốt
5. Sợi nung
Để khắc phục hai nhược điểm cơ bản của đèn ba cực là hệ số khuếch đại thấp và trị số điện dung giữa các cực lớn, người ta bố trí thêm một lưới thứ hai giữa lưới điều khiển và anốt.
Như vậy đèn bốn cực có 2 lưới:
- Lưới thứ nhất gần anốt và gọi là lưới điều khiển, người ta còn gọi tắt là lưới g1
- Lưới thứ hai gần anốt hơn lưới g1 và gọi là lưới chắn hay lưới g2.
Đèn năm cực:
1. Bầu thủy tinh
2. Màn bọc kim phía ngoài.
3. Anốt
4. Giá đỡ các vòng lưới
5. Màn chắn bọc kim phía trong
6. Dây nối
7. Chân đèn
8. Tấm mica làm giá đỡ
9. Lưới triệt g3
10. Lưới chắn g2
11. Lưới điều khiển g1
12. Catốt
13. Tấm đỡ cục ghettơ để hút khí dư, tăng chân không.
Để khắc phục nhược điểm của đèn bốn cực, người ta đặt thêm giữa lưới g2 và anốt một lưới thứ ba g3 có điện áp bằng điện áp catốt. Như vậy những điện tử phát xạ thứ cấp từ anốt bắn ra bị lưới g3 đẩy trở lại anốt và không bị lưới g2 hút nữa, lưới thứ ba g3 do đó được gọi tên là lưới triệt. Đèn có 3 lưới đó là đèn năm cực.
Đặc tuyến của đèn hai cực:
Đặc tuyến anốt của đèn hai cực phản ánh sự biến thiên của dòng anốt Ia theo sự biến thiên của điện áp anốt Ua. Sự biến thiên này không đồng đều, có lúc bão hòa tức là dù Ua có tăng nhưng Ia sẽ không tăng.
Đèn hai cực như vậy là một phần tử phi tuyến tức là không tuân theo định luật Ôm
Đặc tuyến của đèn ba cực:
Đặc tuyến anốt của đèn ba cực biểu thị sự biến thiên của dòng anốt Ia theo sự biến thiên của điện áp anốt . Trong đồ thị đặc tuyến anốt, hoành độ biểu thị dòng điện áp anốt Ua.
Với mỗi trị số Ug khác nhau ta vẽ được một đường đặc tuyến anốt. Tập hợp những đặc tuyến anốt đó lại ta được một họ đặc tuyến anốt như hình 11
Ứng dụng:
Đèn 2 cực.
Đèn 3 cực.
Đèn 4 cực và năm cực.
Đèn 3 cực
Đèn 4 cực và năm cực.
Nắn điện :Là dùng đèn hai cực đấu trong mạch điện để biến đổi dòng xoay chiều thành dòng một chiều.
Tách sóng :
Là dùng đèn hai cực đấu trong mạch có dòng cao tần hay trung tân điều biến và do đó tách lấy thành phần âm tần để đưa ra sử dụng cho các mạch khuếch đại sau để đưa ra gánh sử dụng thành phần âm tần đó (loa hoặc ống nghe).
Đèn 2 cực
Khuyếch đại: Tuỳ theo tần số của tín hiệu mà bố trí linh kiện ở mạch vào và gánh ở mạch ra. Hình 14a là mạch khuếch đại cao tần có mạch lưới là khung cộng hưởng L1C1 và gánh anốt là khung cộng hưởng L2C2.
Hình 14b là mạch khuếch đại âm tần có mạch vào lưới là Micro và biến áp vào, gánh anốt là ống nghe T.
Tạo sóng: Mạch điện dùng đèn ba cực để tạo sóng trình bày ở hình 15. Khi khóa K đóng thì anốt được cấp cao áp. Có sự ghép giữa cuộn L của khung cộng hưởng LC ở mạch anốt với cuộn Lg ở mạch lưới. Sự ghép đó tạo nên sự hồi tiếp và mạch điện sẽ ở trạng thái tự kích: tự nó tạo ra dao đông có tần số bằng tần số cộng hưởng của khung cộng hưởng LC.
Đèn bốn cực và năm cực cũng được sử dụng để khuyếch đại và tạo dao động như đèn ba cực.
CÁM ƠN THẦY VÀ CÁC BẠN ĐÃ THEO DÕI!!!
GVHD: Thầy Lê Văn Hoàng
Nhóm thực hiện:
Kim Thị Sô Phiếp
Diên Nữ Thanh Thụy
Tô Ngọc Hưng
GiỚI THIỆU CHUNG:
Đèn điện tử chân không (vacuum tube, còn được gọi tắt là tube hay valve) còn thường được gọi là đèn điện tử hoặc bóng điện tử là một linh kiện điện tử.
Bản chất của đèn điện tử có kích thước lớn, khi hoạt động toả ra nhiều nhiệt. Hiện nay hầu hết các thiết bị điện tử đã không còn dùng đèn này nữa mà dùng các linh kiện bán dẫn để thay thế (transistor, IC...)
Tuy nhiên trong lĩnh vực chế tạo ampli cho giới sành nhạc, người ta vẫn rất chuộng ampli đèn, lý do là vì ampli đèn có khả năng tạo ra âm thanh trung thực bởi tính chất của nó.
Năm 1904, bóng đèn 2 cực chân không (diode) đầu tiên ra đời. Hai năm sau, bóng đèn 3 cực (triode) xuất hiện, khởi nguồn cho thời hoàng kim của ampli đèn, sau đó xuất hiện đèn bốn cực, năm cực.
PHÂN LOẠI ĐÈN ĐIỆN TỬ
Về mặt công dụng.
Về mặt chế độ công tác.
Về mặt tần số .
Về mặt kết cấu nội bộ.
Về mặt làm nguội .
CATỐT TRONG ĐÈN ĐIỆN TỬ
Catốt lạnh.
Catốt quang điện.
Catốt nhiệt.
SỰ PHÁT XẠ ĐIỆN TỬ
Phát xạ nhiệt điện tử.
Phát xạ quang điện tử.
Phát xạ điện tử thứ cấp.
Nguyên lý hoạt động chung:
Dựa vào sự khống chế luồng điện tử phát xạ.
Các đèn điện tử cần đốt nóng các sợi đốt, khi nhiệt độ các sợi đốt đạt đến một mức độ nào đó, động năng của điện tử thắng sự liên kết của kim loại và sẵn sàng nhảy ra khỏi bề mặt kim loại của sợi đốt.
Để điều khiển các điện tử, giữa các cực cần có một điện trường, chính các điện trường này đã tạo ra dòng điện trong chân không: điện tử di chuyển đến a-nốt.
Cấu tạo:
Đèn hai cực.
Đèn ba cực.
Đèn bốn cực.
Đèn năm cực.
Đèn hai cực
Đèn hai cực gồm hai điện cực đặt trong một bầu thủy tinh đã rút không khí.
Hai điện cực là catốt phát xạ điện tử và anốt hút điện tử.
Anốt và catốt được đặt trên những giá đỡ và có dây nối ra phía ngoài tới các chân điện tử ở dây đèn để nối vào các mạch điện ngoài.
Catốt có thể là nung sợi trực tiếp hoặc nung sợi gián tiếp.
Anốt thường bằng kim loại (kền hoặc thép mạ kền).
Mạch điện của đèn hai cực:
FF là sợi nung được đấu vào nguồn Ef là nguồn nung sợi. Dòng If là dòng nung sợi. Mạch gồm nguồn Ef và sợi nung FF là mạch nung sợi.
A là anốt được đấu vào cực + của nguồn Ea là nguồn cao áp cung cấp cho anốt.
Đèn ba cực:
1. Vỏ thủy tinh
2. Anốt
3. Catốt
4. Cục ghéttơ để hút khí, nâng cao độ chân không
5. Tấm mica làm giá đỡ
6. Lưới điều khiển
7. Sợi nung
8. Chân đèn.
Lưới là những vòng dây mảnh đặt trên những giá đỡ và nằm giữa anốt và catốt. Luồng điện tử bay từ catốt sang anốt phải bay qua những mắt lưới và bị lưới điều khiển khống chế. Lưới được ký hiệu là g và được đấu vào nguồn điện áp để cung cấp cho lưới gọi là nguồn điện lưới. Điện áp đo giữa lưới và catốt gọi là điện áp lưới Ug.
Như vậy đèn ba cực có ba điện cực:
- Catốt để phát xạ điện tử
- Anốt để hút điện tử
- Lưới để khống chế luồng điện tử đó.
Mạch điện của đèn ba cực:
Mạch điện của đèn ba cực như hình 6
- Mạch anốt là mạch đấu nguồn anốt E0 vào anốt và catốt của đèn. Trong mạch anốt có dòng anốt Ia.
- Mạch lưới đấu nguồn lưới Eg vào giữa catốt và lưới của đèn. Trong mạch lưới có thể đo dòng lưới Ig.
Trong hình 6:
1. Là dòng lưới Ig chạy trong mạch lưới, biểu thị bằng mũi tên nét đứt.
2. Là dòng anốt Ia chạy trong mạch anốt, biểu thị bằng mũi tên nét liền.
3. Là nguồn cung cấp cao áp anốt E0.
Đèn bốn cực:
Gồm:
1. anốt
2. Lưới chắn
3. Lưới điều khiển
4. Catốt
5. Sợi nung
Để khắc phục hai nhược điểm cơ bản của đèn ba cực là hệ số khuếch đại thấp và trị số điện dung giữa các cực lớn, người ta bố trí thêm một lưới thứ hai giữa lưới điều khiển và anốt.
Như vậy đèn bốn cực có 2 lưới:
- Lưới thứ nhất gần anốt và gọi là lưới điều khiển, người ta còn gọi tắt là lưới g1
- Lưới thứ hai gần anốt hơn lưới g1 và gọi là lưới chắn hay lưới g2.
Đèn năm cực:
1. Bầu thủy tinh
2. Màn bọc kim phía ngoài.
3. Anốt
4. Giá đỡ các vòng lưới
5. Màn chắn bọc kim phía trong
6. Dây nối
7. Chân đèn
8. Tấm mica làm giá đỡ
9. Lưới triệt g3
10. Lưới chắn g2
11. Lưới điều khiển g1
12. Catốt
13. Tấm đỡ cục ghettơ để hút khí dư, tăng chân không.
Để khắc phục nhược điểm của đèn bốn cực, người ta đặt thêm giữa lưới g2 và anốt một lưới thứ ba g3 có điện áp bằng điện áp catốt. Như vậy những điện tử phát xạ thứ cấp từ anốt bắn ra bị lưới g3 đẩy trở lại anốt và không bị lưới g2 hút nữa, lưới thứ ba g3 do đó được gọi tên là lưới triệt. Đèn có 3 lưới đó là đèn năm cực.
Đặc tuyến của đèn hai cực:
Đặc tuyến anốt của đèn hai cực phản ánh sự biến thiên của dòng anốt Ia theo sự biến thiên của điện áp anốt Ua. Sự biến thiên này không đồng đều, có lúc bão hòa tức là dù Ua có tăng nhưng Ia sẽ không tăng.
Đèn hai cực như vậy là một phần tử phi tuyến tức là không tuân theo định luật Ôm
Đặc tuyến của đèn ba cực:
Đặc tuyến anốt của đèn ba cực biểu thị sự biến thiên của dòng anốt Ia theo sự biến thiên của điện áp anốt . Trong đồ thị đặc tuyến anốt, hoành độ biểu thị dòng điện áp anốt Ua.
Với mỗi trị số Ug khác nhau ta vẽ được một đường đặc tuyến anốt. Tập hợp những đặc tuyến anốt đó lại ta được một họ đặc tuyến anốt như hình 11
Ứng dụng:
Đèn 2 cực.
Đèn 3 cực.
Đèn 4 cực và năm cực.
Đèn 3 cực
Đèn 4 cực và năm cực.
Nắn điện :Là dùng đèn hai cực đấu trong mạch điện để biến đổi dòng xoay chiều thành dòng một chiều.
Tách sóng :
Là dùng đèn hai cực đấu trong mạch có dòng cao tần hay trung tân điều biến và do đó tách lấy thành phần âm tần để đưa ra sử dụng cho các mạch khuếch đại sau để đưa ra gánh sử dụng thành phần âm tần đó (loa hoặc ống nghe).
Đèn 2 cực
Khuyếch đại: Tuỳ theo tần số của tín hiệu mà bố trí linh kiện ở mạch vào và gánh ở mạch ra. Hình 14a là mạch khuếch đại cao tần có mạch lưới là khung cộng hưởng L1C1 và gánh anốt là khung cộng hưởng L2C2.
Hình 14b là mạch khuếch đại âm tần có mạch vào lưới là Micro và biến áp vào, gánh anốt là ống nghe T.
Tạo sóng: Mạch điện dùng đèn ba cực để tạo sóng trình bày ở hình 15. Khi khóa K đóng thì anốt được cấp cao áp. Có sự ghép giữa cuộn L của khung cộng hưởng LC ở mạch anốt với cuộn Lg ở mạch lưới. Sự ghép đó tạo nên sự hồi tiếp và mạch điện sẽ ở trạng thái tự kích: tự nó tạo ra dao đông có tần số bằng tần số cộng hưởng của khung cộng hưởng LC.
Đèn bốn cực và năm cực cũng được sử dụng để khuyếch đại và tạo dao động như đèn ba cực.
CÁM ƠN THẦY VÀ CÁC BẠN ĐÃ THEO DÕI!!!
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓










ĐÈN ĐIỆN TỬ